Những luật tắc, phẩm hạnh và những thệ nguyện của Bồ-tát, cũng như việc thực hành con đường Bồ-tát, được giảng giải khắp các kinh luận Đại thừa. Nói chung Bồ-tát được xem là mẫu người có nhân cách lý tưởng và cao thượng; và những giới luật Bồ-tát được xem như những chuẩn tắc đưa đến một đời sống đạo đức và giúp xây dựng một xã hội tốt đẹp, cuối cùng là đưa hành giả đến sự giải thoát. Hẳn nhiên rằng khi thực hành theo những chuẩn tắc cùng những thệ nguyện mà mình phát nguyện, Bồ-tát sẽ trở thành những tấm gương sáng trong cuộc đời. Bồ-tát đi vào trong đời, vừa tu tập hoàn thiện bản thân và vừa làm cho cuộc đời tốt đẹp và nhân bản hơn. Chính vì điều này mà kinh Hoa nghiêm (Avataṃsaka Sūtra) nói rằng Bồ-tát đóng chức năng như một ngọn đèn có thể soi sáng thế gian.
Lý tưởng Bồ-tát trong đời sống xã hội
Một cách nhận biết số lượng tín đồ Phật giáo
Phật giáo và sự ổn định xã hội tại Việt Nam
Là một tôn giáo được du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ trước và sau Tây lịch (từ khoảng thế thứ II - III trước TL đến thế kỷ II - III sau TL), Phật giáo được hình thành và phát triển đến ngày nay. Suốt thời gian trên dưới 2.000 năm, Phật giáo đã trải qua rất nhiều thăng trầm cùng với sự thăng trầm của lịch sử nước nhà nhưng Phật giáo luôn khẳng định tôn chỉ và lập trường là đồng hành cùng dân tộc. Là một trong số ít tôn giáo chủ trương không sát hại (ahimsa), Phật giáo phản đối chiến tranh, bạo động và các hình thức gây bất ổn xã hội. Trong những trường hợp buộc phải tự vệ để bảo vệ đất nước và bảo vệ Phật giáo, thì Phật giáo không thụ động mà chủ trương đấu tranh bất bạo động, và bước đường cùng là đấu tranh vũ trang qua hình thức “cởi áo cà sa khoác chiến bào”. Sau khi đất nước giành độc lập từ thế kỷ thứ X, Việt Nam đã trải qua nhiều triều đại và chế độ khác nhau, trong đó có nhiều thời kỳ lãnh đạo đất nước là các Phật tử. Bài viết này sẽ chỉ giới hạn trong thời gian nói trên và ba vấn đề chính sẽ được đề cập bao gồm: Phật giáo với việc ổn định xã hội; xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của các Phật tử; và nhu cầu khẳng định vị trí xứng đáng của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Quan niệm Phật giáo về chính quyền
Pháp Phật và người trị vì
Tôn giáo, dù xuất thế hay nhập thế, vẫn tồn tại trong xã hội và có những liên hệ mật thiết với đời sống xã hội. Giáo thuyết của một tôn giáo cho dù nói nhiều về những vấn đề siêu nhiên, vẫn không hoàn toàn tách rời bối cảnh văn hóa, triết học, chính trị xã hội, và ngay cả tình cảm cộng đồng… nơi nó hình thành. Giáo chủ của một tôn giáo thường được xem là người phát ngôn vĩ đại nhất của thời đại của mình. Và sự tồn tại cũng như phát triển của một tôn giáo luôn gắn liền với bối cảnh xã hội nơi nó hiện diện.
| Đức Phật thuyết Pháp cho vua Bimbisara |
Có hai khuynh hướng thường nhìn thấy nơi những nhà Phật học và các học giả khi thảo luận về Phật giáo và các vấn đề xã hội, đặc biệt là triết học xã hội. Một khuynh hướng cố gắng tìm kiếm những thuyết giáo trong hệ thống kinh sách Phật giáo liên hệ đến những vấn đề xã hội, và cũng nỗ lực giải thích những thuyết giáo này sao cho phù hợp với ngữ cảnh hiện đại. Một số khác xem Đức Phật như một vị Đạo sư của một tôn giáo xuất thế; và triết học xã hội, cụ thể hơn là những quan điểm và lý thuyết về kinh tế và chính trị, không có vị trí trong Phật giáo.
Thiện & Bất Thiện Trong Phật Giáo
Trong Phật giáo, có hai thuật ngữ có nghĩa gần với hai khái niệm tốt và xấu, đó là kusala và akusala. Hai thuật ngữ này thường được chuyển dịch sang tiếng Việt là thiện và bất thiện; và thường được dịch sang tiếng Anh là "good" và "bad", hay "skilful" và "unskilful". Trong kinh tạng Pāli, có hai thuật ngữ khác cũng có nghĩa là thiện và bất thiện, đó là pāpa và puñña. Nhưng hai thuật ngữ pāpa và puñña cũng được sử dụng trong Ấn giáo, và thường đề cập đến việc tạo nghiệp lành (pāpa kamma) hay nghiệp ác (puñña kamma) trong việc liên hệ đến tái sanh. Pāpa kamma thường được hiểu là một hành động xấu ác đưa đến khổ đau và tái sanh vào các ác thú (cảnh giới khổ đau), trong khi puñña kamma là việc làm thiện, đưa đến sự tái sanh về thiên giới (được xem là cảnh giới có nhiều vui thú).
Từ Deeksha Bhoomi: Nghĩ về Phong Trào Phục Hưng Phật Giáo của B.R. Ambedkar
Mười giờ sáng nhưng trời đã nắng gắt, mùa hè ở Nagpur nóng hơn rất nhiều so với nhiều nơi khác ở Ấn. Chuyến tàu đến đúng chính xác giờ như được ghi trong vé. Vì thời gian ở Nagpur chỉ được hai ngày, nên vừa xuống tàu tôi đã đón rickshaw đi ngay đến Deeksha Bhoomi, một địa danh mà tôi cần đến trong chuyến đi Nagpur lần này.
Nếu như Bodhgaya được coi là thánh địa của Phật tử khắp nơi trên thế giới, thì Deeksha Bhoomi được xem là thánh địa của những Phật tử mới Ấn Độ, tức những Phật tử cải từ Ấn giáo sang Phật giáo từ sau phong trào của B.R. Ambedkar.
Deeksha Bhoomi khá vắng người khi tôi đến, chỉ có một vài gia đình, cả Phật giáo và Ấn giáo, đến tham quan chiêm bái, và một số sinh viên của trường đại học bên cận sang chơi và học bài. Deeksha Bhoomi chưa bị sự xâm lấn của những dịch vụ kinh doanh như những Phật tích khác ở Ấn Độ. Điều này có thể do vì không có nhiều những đoàn chiêm bái nước ngoài đến đây, tức là vì chưa có “cầu” nên chưa có “cung”.
Tiếng nói của Phật pháp & Tương lai Phật giáo
Kính thưa chư Tôn đức, kính thưa quý vị tổ chức hội thảo cùng những nhà lãnh đạo Phật giáo từ khắp nơi trên thế giới! Thật là vinh dự cho tôi khi có mặt ở đây, chia sẻ một vài suy nghĩ về việc làm thế nào để trí tuệ và những hướng dẫn của Đức Phật có thể tiếp tục làm lợi ích cuộc đời trong những thập kỷ và thế hệ tiếp theo.
Chúng ta đang sống ở một thời đại đặc biệt. Phật pháp bây giờ đã được khắp thế giới biết đến. Phật pháp được thực hành ở những vùng đất mới, trong dân chúng với những truyền thống và mối quan tâm khác nhau. Phật pháp đang đóng góp vào một nền văn hoá mới toàn cầu.
Nữ Phật tử & Vấn đề đa thê ở Indonesia
Bối cảnh
Hôn nhân là một hiện tượng của loài người được thực hiện phổ biến, từ những nền văn minh xa xưa, bất kể địa lý, tôn giáo, chủng tộc và giai tầng xã hội. Hôn nhân trong tiếng Latin là marītātus, có nghĩa là “kết hôn, cưới và bán gả”. Ngày nay hôn nhân được định nghĩa là: 1. Một sự thoả thuận chính thức, thường được chấp nhận về mặt pháp luật, giữa một người nam với một người nữ để giúp họ trở thành vợ chồng; 2. Một nghi lễ mà ở đó đôi trai gái nên vợ chồng. Hôn nhân ở nghĩa đầu là muốn nói ở trong bài viết này, và không phải là nghĩa thứ hai.
Vu Lan: Tản Mạn Về Mẹ Và Con
Gia đình đối diện có hai người con trai. Một ở với ba mẹ; một ở đâu đó khá xa và đôi ba tháng về thăm ba mẹ một lần. Một lần con trai trở về bà mẹ vui mừng, hạnh phúc; và khi con đi bà lại đứng trước cổng nhà lặng lẽ lau những giọt nước mắt như vậy. Không rõ là người con trai ở phía cuối con đường có biết được mẹ của mình đang khóc hay không, nhưng chắc hẳn anh cảm nhận được tình thương của người mẹ dành cho mình.
Cũng căn nhà đối diện ấy, tôi đã nhìn thấy những phụ nữ nghèo, để phụ hồ cho chồng, phải dẫn theo các con nhỏ vì có lẽ để ở nhà sẽ không có người trông nom. Những đứa trẻ nheo nhóc lẻo đẽo sau chân mẹ, khi mẹ bưng hồ vữa hay khuân gạch cho cha xây. Những lúc nghỉ ngơi, hay giờ ăn trưa, các chị ngồi ôm con, hôn hít lên những khuôn mặt đầy mũi dãi, rồi bón cho chúng những mẩu bánh nướng, những hạt cơm khô. Những đứa trẻ ôm lấy mẹ, như ôm lấy những gì vững chãi nhất, dù mẹ là người thuộc “phái yếu”, và hẳn là không hề nghĩ đến mẹ mình là cao sang hay thấp hèn trong cõi đời vốn có nhiều sự phân chia này.